Thứ năm, 31/7/2014 20:29:15 (GMT+7)
Khuyến nông
Sử dụng phân đạm dùng cho cây mía
Thứ hai, 19/4/2010 12:00:00 AM

Bón phân Đạm (N) là trong những biện pháp kỹ thuật được thực hiện phổ biến, thường mang lại hiệu quả lớn, nhưng cũng chiếm phần khá cao trong chi phí sản xuất nông nghiệp .


Vùng mía nguyên liệu Công ty TNHH một thành viên Mía đường Tây Ninh

Bón phân Đạm (N) hợp lý là sử dụng phân bón thích hợp cho cây đảm bảo tăng năng suất cây trồng, với hiệu quả kinh tế cao nhất không để lại hiệu quả tiêu cực lên nông sản và môi trường sinh thái .

Phân Đạm (N) tuy chỉ chiếm khoảng 1% tổng trọng lượng chất khô trong cây mía khi thành thục, song nó giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với năng suất và chất lượng mía.

Đạm tham gia vào thành phần của các axit amin và các chất protein trong cây mía. Phần lớn đạm chứa trong các tế bào sinh trưởng. Trong một cây mía, phần ngọn chứa nhiều đạm hơn ở phần gốc. Phần đốt (khu vực mầm đai rễ, đai sinh trưởng) nhiều hơn ở phần lóng.

Mía có thể hút đạm để dự trữ trong cây rồi dùng dần.

Thông thường bón 1kg đạm nguyên chất có thể cho 400 đến 500kg mía cây nguyên liệu.

Tùy đất, giống và mục tiêu năng suất, có thể bón từ 100 đến 250kg đạm nguyên chất cho 1ha mía.

Có thể bón đạm cho mía d­ưới nhiều dạng phân khác nhau như sunphat amôn, nitrat amon, phân urê, phân tổng hợp NPK v.v...

Thiếu đạm, lá mía sẽ có màu vàng nhạt. Tốc độ hình thành lá và tốc độ vươn cao chậm lại, lá chóng già, số lá xanh tồn tại ít; cây bé; rễ bé so với cây được bón đủ đạm.

Thiếu đạm, mía sẽ thấp cây, đẻ nhánh ít, cây hữu hiệu thấp, sớm bước vào giai đoạn tích lũy đường. Đủ đạm, mía sẽ đẻ nhánh nhiều, cây to cao, bộ lá có màu xanh tư­ơi, lá to, số lá xanh tồn tại nhiều v.v...

Quá thừa đạm, lá sẽ có màu xanh thẫm, cây yếu ớt, dễ đổ ngã, lóng dài, nhiễm sâu bệnh nặng, hàm lượng đường thấp, chín chậm hơn thường lệ v.v...

1. Cách bón đạm:

Đạm có thể bón lót toàn bộ (bón 1 lần) hoặc bón làm 2 hoặc 3 lần (1 lần lót, 1 lần thúc, hoặc 1 lần lót, 2 lần thúc).

Bón đạm phải nắm vững mấy nguyên tắc sau đây:

- Bón ngầm và bón sâu để hạn chế lượng đạm bị mất do ánh nắng và nước m­ưa rửa trôi. Tuyệt đối không được bón trên mặt đất (bón sau m­ưa). Nếu bón làm 2 hoặc 3 lần thì phải cày đất ra, bón phân vào rãnh cày, rồi cày lấp lại, hoặc chọc hốc rồi bón phân vào hốc và lấp đất; hoặc bón kết hợp với vun (bón xong vun ngay).

- Phải kết thúc bón đạm trước khi thu hoạch 4-6 tháng để khỏi ảnh hưởng đến hàm lượng đường.

- Phải bón cân đối giữa đạm, lân và kali (N.P.K) theo tỷ lệ 2-1-2; 2-1-1,5 tính theo nguyên chất.

2. Xác định lượng đạm cần bón.


Xác định đúng lượng đạm cần bón là việc làm khá khó khăn song rất quan trọng. Bón đúng lượng cần thiết sẽ có năng suất cao, chất lượng tốt dẫn đến hiệu quả kinh tế cao. Bón quá ít hoặc quá nhiều đều dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.

Để xác định được lượng đạm cần bón, thường dùng 4 cách sau đây:

- Làm thí nghiệm về lượng đạm.

- Phân tích đất để bón phân.

- Phân tích lá để chỉ đạo bón phân.

- Xem cây để xác định lượng phân.

Sau đây là nội dung chi tiết của 4 cách làm kể trên.

2.1. Làm thí nghiệm thăm dò lượng đạm (cách đơn giản nhất).

- Trong ruộng mía, chọn 12 đến 15 hàng ở khoảng giữa (các hàng phía bờ làm bảo vệ) chia làm 3 lô; mỗi lô từ 4 đến 5 hàng, mỗi hàng dài từ 15m trở lên. Lô thứ nhất bón 200kg urê /1ha (gần bằng 100kg đạm nguyên chất), lô thứ hai bón với định lượng 300kg urê /1ha; lô thứ ba bón với định lượng 400kg urê/ha. Nếu có điều kiện thì nhắc lại 2 lần hoặc 3 lần. Cuối vụ xem lô nào cho hiệu quả kinh tế cao nhất thì chọn định lượng ấy để bón cho các năm sau.

2.2. Phương pháp phân tích đất để định lượng phân.


Mỗi lô đất có điều kiện giống nhau (dưới 10 ha) thì lấy một mẫu đất đi phân tích.

Cách lấy mẫu như­ sau: Trong lô đất chọn 8 điểm theo đường chéo góc, mỗi điểm đào lấy 1kg đất ở độ sâu từ 0-30cm. Trộn đều số đất ấy lại với nhau, rồi lấy ra 1kg đ­ưa đi phân tích đạm tổng số (phương pháp Kjendan).

- Nếu hàm lượng đạm tổng số d­ới 0,04% là đất quá nghèo đạm, phải bón từ 200kg đạm nguyên chất trở lên cho 1ha (tức là trên 400kg urê cho 1ha, vì urê chỉ có 46% đạm nguyên chất).

- Nếu đạm tổng số từ 0,04 đến 0,08 (đất thịt thì từ 0,04 đến 0,09%) là đất thiếu đạm, phải bón 150-190kg đạm nguyên chất cho 1ha (khoảng 300-390kg urê).

- Nếu đạm tổng số từ 0,08-0,12% (trên đất thịt từ 0,09 đến 0,14%) là đất thiếu đạm, phải bón 150-190kg đạm nguyên chất cho 1ha (khoảng 300-390kg urê).

- Nếu đạm tổng số từ 0,08-0,12% (trên đất thịt từ 0,09 đến 0,14%) là đất thiếu đạm vừa, có thể bón d­ới 150kg đạm nguyên chất cho 1ha (khoảng 300kg urê).

- Nếu đạm tổng số từ 0,29 đến 0,36% trên đất cát pha và từ 0,34 đến 0,4% trên đất thịt là đất giàu đạm, không cần bón hoặc chỉ bón dư­ới 100kg đạm / 1ha.

2.3. Phương pháp phân tích lá.


Lấy mẫu lá vào giữa thời kỳ sinh trưởng mạnh tức là lúc 3 đến 7 tháng tuổi, sau khi đã kết thúc bón phân tối thiểu là 20 ngày.

Thường lấy mẫu làm 2 lần, mỗi lần cách nhau 1 tháng. Sau khi phân tích, điều chỉnh về tuổi chuẩn, tức là 5 tháng tuổi, bằng cách cộng hoặc trừ vào kết quả.

Nếu phân tích đúng tháng thứ 5 thì giữ nguyên kết quả, tháng thứ t­ư thì trừ đi 0,09, tháng thứ ba thì trừ đi 0,32. Nếu phân tích muộn sau tháng thứ 5 thì cộng thêm vào kết quả phân tích: tháng thứ 6 cộng thêm 0,08, tháng thứ 7 cộng thêm 0,15.

Thông thường người ta lấy lá dư­ơng ba (+3) để phân tích; có nơi lấy lá dư­ơng 1 (+1) hoặc lấy từ +3 đến lá +6.

Cứ 10 ha cùng loại người ta lấy một mẫu lá để phân tích. Gồm lá của 60 cây sơ cấp (cây mẹ), đem về diệt men ở nhiệt độ 110-112oC. Sau đó sấy khô ở nhiệt độ 80-90oC.

Trước khi phân tích sấy lại ở 105oC trong vài giờ. Đi đôi với việc lấy phiến lá để phân títích đạm, lấy thêm bẹ lá của các lá từ +3 đến +6 đem về phân tích độ ẩm để đối chiếu thêm, (tthường hàm lượng đạm tăng theo tỷ lệ thuận với độ ẩm).

Tính hàm lượng đạm so với lá khô kiệt.

- Nếu hàm lượng đạm dư­ới 1% là quá thiếu đạm. Các ruộng ấy phải bón với lượng đạm tối đa, tức là từ 200kg N trở lên cho 1ha (trên 400kg urê cho 1ha).

- Nếu hàm lượng đạm từ 1,1 đến 1,5% là thiếu đạm, phải bón từ 150 đến 200kg N/ha.

- Nếu hàm lượng đạm từ 1,5 đến 1,6 là thiếu trung bình có thể bón từ 100 đến 150kg N/ha.

- Nếu hàm lượng đạm từ 1,6 đến 1,9% thì chỉ cần bón d­ưới 100kg N/ha.

- Nếu hàm lượng đạm từ 2% trở lên thì không cần bón đạm hoặc chỉ bón rất ít.

2.4. Phương pháp nhìn cây để bón.

Phương pháp này rất đơn giản, gọi là phương pháp chuyên gia. Nhưng chỉ thực hiện được đối với những người có nhiều kinh nghiệm trong nghề trồng mía.

Tình trạng thừa đạm, đủ đạm hay thiếu đạm thường thể hiện ở các đặc trưng sau đây:

- Màu sắc lá.

- Độ to và độ uốn cong của phiến lá.

- Khoảng cách giữa các cổ lá từ lá +1 đến lá +5.

- Lượng phấn (sáp) ở bẹ lá +1 đến lá +6 (so sánh với bản chất từng giống).

- Màu sắc của thân ở nơi không dãi nắng (cách bờ từ 8m trở lên).

- Chiều dài của các lóng mía (so với bản chất của từng giống).

- Sự tích lũy đường sớm hay muộn (so trong cùng giống và cùng thời vụ trồng với nhau).

PHÒNG ĐẤT ĐAI - NÔNG NGHIỆP

Chia sẻ với bạn bè qua:
Hình ảnh hoạt động
Tổng kho Tân Hà Nhà máy cao su Nhà máy gạo
Thông tin hỗ trợ
Số điện thoại:
(+84) 066 6250 340

Chat with mysinhtodua@yahoo.com Chat with nguyenxuandanh_tn@yahoo.com